Tần tảo khói tro (2012-06-11 02:04:00)Trong kiến trúc truyền thống vùng đồng bằng Bắc bộ, mỗi khu nhà được quây quần bởi một tổ hợp bao gồm nhà chính – bếp – nhà nghề và những thành phần phụ như bể nước, vườn, hàng rào, khu chăn nuôi, nơi phơi phóng và tích trữ lương thực…
Theo thói quen, và cũng phù hợp với nếp sống định canh lúa nước của người đồng bằng, mô hình thiết kế nhà vùng đồng bằng sông Hồng đã định hình từ hàng trăm năm nay, theo đó nếu nhà chính nhất thiết dựng lên với mọi chăm chút, mọi toan lo của cả gia đình, thậm chí cả gia tộc, và những vật liệu được chọn với chất lượng tốt nhất trong điều kiện có thể, thì bếp luôn được dựng chỉ bằng những vật liệu đơn giản, dễ kiếm. Nó thường được bố trí bên phải nhà, đối diện cùng căn nhà ngang tích trữ thóc lúa hoặc sản xuất nghề phụ, cùng nhìn ra khoảng sân chung với trục đối xứng xuyên từ cổng qua giữa nhà chính.
Cùng quay quần lấy khoảng sân chung như mọi thành viên trong gia đình đều hướng về cốt lõi quê quán, song mỗi đơn nguyên đều mang một công năng khác biệt và dành cho những đối tượng nhất định. Đã đành mọi hoạt động sinh sống đều có thể diễn ra trên nhà chính, song cũng chỉ ông chủ và các con trai, con rể mới có thể tự do ăn, ngủ, uống trà, hút thuốc dưới mái ngói, trên bộ tràng kỷ trước bàn thờ tổ tiên. Người mẹ tần tảo, những cô con gái lam làm và đám con dâu nhẫn nhục bằng lòng cùng ánh sáng nhập nhoạng nơi góc bếp – một góc riêng của thân phận đàn bà xưa, một không gian sống cũng khiêm nhường như chính thân phận người phụ nữ bị bao bọc bởi màu xanh luỹ tre làng thời cũ.
|
Trên gác bếp, nơi muội than ám cứu lưu niên, là nơi người nội trợ cất trữ các loại lương thực khô. Ảnh:
|
Dù rằng gia đình chẳng thể nào tồn tại nếu không có những bữa cơm, song bếp lại là không gian chẳng mấy khi được vinh dự đón bước chân của khách ghé chơi. Được dựng bởi thân gỗ vênh, những thân tre và lợp rơm rạ, bếp xưa mịt mù khói và nhem nhẻm tro than. Một ông đầu rau, khi rực lửa rơm và khi nguội lạnh tàn tro, đôi lúc mềm mại một chú mèo cuộn tròn tìm hơi ấm trong ngày giá rét. Với nguyên liệu đun nấu chính là rơm rạ, bếp người Việt xưa thường ngổn ngang những túm rơm, rạ rút từ cây rơm ngoài sân, và lỉnh kỉnh những mẹt, mủng, thúng, nia… đựng đù thứ trên đời vốn được nhà nông tích trữ. Trên gác bếp, nơi muội than ám cứu lưu niên, là nơi người nội trợ cất trữ các loại lương thực khô. Khoai sắn, thúng mủng, thậm chí cả những bó thuốc nam và hàng trăm đồ vật chẳng mấy khi dùng đến song không thể thiếu cũng hiện diện giữa không gian lơ lửng đen kịt muội than này. Tương cà mắm muối, những mớ rau tươi và củ khô… tất cả đều tập trung trong gian bếp chật hẹp, nơi chứng kiến những dòng mồ hôi âm thầm đổ ra của người đàn bà tần tảo để lo cho gia đình bữa cơm ngon canh ngọt.
Bếp quê là vậy, dù trong ngày hè oi nồng hay giữa tiết đông lạnh căm căm gió mùa, ngọn lửa chẳng bao giờ được tắt, tất nhiên trừ những ngày giáp hạt. Ngọn lửa như tấm lòng người phụ nữ khi rực hồng, khi le lói trong không gian tro bụi, luôn toả nóng để nuôi dưỡng sinh khí cho cộng đồng nhỏ bé. Mỗi gia đình người Việt xưa, dù ở miền nào cũng đều coi trọng ông đầu bếp bên cạnh nghĩa vụ thờ kính tổ tiên. Vậy mà hàng trăm, hàng ngàn năm đã trôi qua, thân phận người phụ nữ, thân phận góc bếp chẳng mấy khi được mở mang với tà áo lụa, với nếp khăn vấn phẳng phiu. Ngọn lửa bếp, làn khói lam chiều cũng mang hồn vương vấn như hình dáng người đàn bà lam lũ trong tâm linh người Việt xưa và nay.
TRƯỜNG GIANG
(Hương vị quê nhà, SGTT Xuân 2004)
